#

ĐỂ DẪN HỘI THẢO TOÀN QUỐC GIÁO DỤC SỚM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRẺ EM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU ĐỜI: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHẦN 1

Trang Thảo
Bài viết: 281

Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Đối với mỗi con người, những năm đầu đời đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển tiềm năng, năng lực cá nhân và hình thành nhân cách.

img-8268-1607-1624354613.jpg

Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục phát triển tiềm năng con người (IPD), Phó Chủ tịch Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe công đồng Việt Nam (VACHE) NGND. PGS. TS. BS. Nguyễn Võ Kỳ Anh  

Các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục hiểu rất rõ điều này. Nhưng trong thực tế, quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ từ xưa đến nay, có rất nhiều quan niệm chưa đồng nhất. Nhiều người cho rằng "trời sinh voi thi sinh cỏ", "trăng đến tuần thì trăng tròn" hoặc chỉ chú ý việc nuôi trẻ sao cho lớn, khỏe và khi trẻ lên ba, lên 6 tuổi mới cho trẻ đi học. Ngược lại, có một số người lại muốn trẻ em cần được giáo dục sớm để có thể trở thành "thần đồng" hay "thiên tài". Những quan niệm như vậy là hoàn toàn lệch lạc. Gần đây, có nhiều bậc cha mẹ đã quan tâm đến việc giáo dục trẻ từ sớm ngay từ khi bà mẹ mang bầu cho đến 6 tuổi theo các triết lý và phương pháp giáo dục tiên tiến của các nước có nền giáo dục hiện đại mà họ tiếp thu được. Nắm bắt được nhu cầu này, nhiều Trung tâm, nhiều cơ sở giáo dục mầm non tư thục đã ra đời để đáp ứng nguyện vọng của các gia đình có con nhỏ. Với mong muốn tiếp cận triết lý và phương pháp giáo dục tiên tiến của các học giả nổi tiếng trên thế giới và xây dựng các giải pháp, mô hình giáo dục sớm cho trẻ em Việt Nam những năm đầu đời phù hợp với nền văn hóa của dân tộc, Trung ương Hội giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng Việt Nam đã thành lập Viên Nghiên cứu giáo dục phát triển tiềm năng con người (IPD). Gần 10 năm qua, được sự tài trợ của các tổ chức giáo dục quốc tế thông qua Hliệp hội Vì giáo dục cho mọi người Việt Nam (VAEFA) và các nhà hảo tâm trong nước, Viện IPD đã tiến hành nghiên cứu về Giáo dục sớm và bước đầu đã có những thành quả đáng khích lệ. 

Để chuẩn bị cho kỷ niệm 10 năm thành lập Viện IPD, Trung ương Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng Việt Nam (VACHE) và Viện IPD tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc về “Giáo dục sớm phát triển năng lực trẻ em trong những năm đầu đời: lý luận và thực tiễn" với mong muốn nhìn lại những điều đã làm được, định hướng phát triển cho tương lai của giáo dục sớm trong giáo dục gia đình và giáo dục ở bậc học mầm non, góp phần đổi mới giáo dục và đào tạo nước nhà. 
Hội thảo đã thu hút được sự tham gia của các vị đại biểu khách quý, các nhà khoa học từ các Viện nghiên cứu, các Trường Đại học, Cao đảng, các cán bộ quản lý giáo dục mầm non, giáo viên các trường mầm non, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và các bậc cha mẹ có con theo học các cơ sở giáo dục sớm của cả nước. Đặc biệt cũng đã nhận được một số bài  viết của các chuyên gia nước ngoài nguyên là cộng tác viên của Viện IPD.

Các báo cáo khoa học trong Hội thảo lần này đề cập đến các nghiên cứu về tổng quan của giáo dục sớm, các giải pháp, mô hình, các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, kỹ năng và các chương trình, phương tiện, đồ dùng giáo dục sớm rất đa dạng, sinh động và sâu sắc. Như lời của TS. Đặng Huỳnh Mai, nguyên thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, người có nhiều năm phụ trách GDMN đã chia sẻ “Những nội dung của Hội thảo rất phù hợp với chủ trương Đổi mới giáo dục đào tạo của Đảng, hợp lý trong thời điểm đại dịch Covid-19 đang bùng phát trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam của chúng ta". Ban tổ chức Hội thảo xin góp thành các nhóm vấn đề chính sau:

untitled-1624354631.png

Kỷ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc – Giáo dục sớm phát triển năng lực trẻ em trong những năm đầu đời lý luận và thực tiễn

Thứ nhất là nhóm nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận về giáo dục sớm, góp phần đổi mới giáo dục mầm non ở nước ta. 

Trong các bài “Chăm sóc và giáo dục sớm trẻ em, từ những năm đầu đời là nền móng cho nâng cao chất lượng nòi giống" của Chủ tịch Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng Việt Nam Nguyễn Hồng Quân, bài “Thực hiện giáo dục sớm từ 0 đến 6 tuổi, bước đột phá để nâng cao chất lượng nòi giống và đào tạo nhân tài cho đất nước" của Đồng chí Vũ Oanh, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch danh dự Hội, bài “Giáo dục sớm - khai mở tiềm năng, phát triển năng lực của trẻ trong những năm đầu đời" của NGND. PGS. TS. BS. Nguyễn Võ Kỳ Anh, bài “Giáo dục sớm theo tiếp cận hệ thống: một vài vấn đề về lý luận và thực tiễn" của TS. Nguyễn Trọng Hậu đều nhấn mạnh Giáo dục sớm là một bước đột phá của khoa học giáo dục. Giáo dục sớm tác động, dẫn dắt, bồi dưỡng, phát triển tiềm năng, năng lực của trẻ trong những năm đầu đời. Sự phát triển của những năm đầu đời quyết định tương lai của cả cuộc đời. Vì vậy giai đoạn này được gọi là “ cửa sổ của cơ hội”, nếu bỏ qua cơ hội chỉ đến một lần trong đời lúc này thì tiềm năng, năng lực của trẻ sẽ giảm dần theo quy luật “ sử dụng nó hay đánh mất nó”,  nghĩa là giáo dục càng muộn thì tiềm năng, năng lực có được của con người được phát huy càng ít.

NGND.PGS.TS.BS. Nguyễn Võ Kỳ Anh trong bài ” Phát triển trẻ thơ toàn diện trong thời đại 4.0 và hội nhập quốc tế”, TS.BS. Phạm Thị Mai Chi với bài “Đặc điểm phát triển của não bộ trẻ em và ứng dụng trong giáo dục sớm phát triển tiềm năng trẻ” và Ths.Lưu Minh Hường với bài “Thuyết ba não trong ứng dụng chăm sóc và giáo dục trẻ nhỏ”, đã trình bày vai trò quan trọng và quyết định của não bộ trong những năm đầu đời đến việc phát triển tiềm năng, năng lực của trẻ. Đặc biệt nhấn mạnh: (1) Sự phát triển nhanh và mạnh của não bộ về trọng lượng, về tế bào thần kinh và các kết nối thần kinh cũng như sự phát triển của não phải trong giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi đóng vai trò chủ đạo là rất quan trọng; (2) Trẻ học rất sớm trong những năm đầu đời nên nếu được đầu tư chăm sóc giáo dục sớm cho trẻ sẽ có hiệu quả cao.

NCS. Lê Thị Hường và PGS.TS. Bùi Văn Hồng với bài “ Kích hoạt não cho trẻ trong giai đoạn sớm giúp phát triển nhận thức” và bài của TS. Nguyễn Thị Kim Dung nói về “ Song ngữ sớm và những lợi ích đối với sự phát triển não bộ của trẻ”, bài của TS Bevely Hall, chuyê gia giáo dục Australia về “ Tầm quan trọng của việc dạy trẻ ngôn ngữ thứ hai sớm” và bài “ Có thể dạy trẻ mầm non ngôn ngữ thứ hai?” của TS. Jeanette Vos cho thấy có khá nhiều tác giả ngoài nước và trong nước nghiên cứu, tìm hiểu về chức năng não bộ liên quan đến sự phát triển của trí tuệ, nhận thức của trẻ trong giai đoạn mầm non và đều đồng quan điểm nhấn mạnh vai trò não phải, các kết nối thần kinh, các giác quan là những thành tố quan trọng. PGS.TS. Nguyễn Công Khanh với bài “ Giáo dục sớm, phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ mầm non” đã cung cấp các dữ liệu từu kết quả nghiên cứu và thử  nghiệm một chương trình giáo dục sớm liên quan đến phát triển trí tuệ cảm xúc, gồm: khái niệm, mô hình, các nguyên tắc, phương pháp, kỹ thuật và tư vấn chuyên môn về cách thức huấn luyện phát triển EQ cho trẻ mầm non nhằm giúp giáo viên/ cha mẹ có thể học hỏi vận dụng cách thức giáo dục sớm một cách khoa học, tập trung vào lĩnh vực cảm xúc để nuôi dưỡng phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ ở lứa tuổi này.

Thứ hai là nhóm nghiên cứu về những giải pháp lồng ghép Giáo dục sớm trong chương trình giáo dục mầm non.

PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Trinh, TS. Nguyễn Thị Nga với bài “ Giáo dục sớm trong Chương trình giáo dục Mầm non – Thực trạng và những rào cản khi thực hiện” và bài “ Giáo dục sớm và giáo dục sớm trong Chương trình giáo dục Mầm non sau năm 2020” của Ths. Bùi Thị Kim Tuyến đã nêu lên quan niệm về giáo dục sớm và giáo dục sớm lồng ghép vào chương trình Giáo dục mầm non ở nhiều quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam; triết lý và mục tiêu giáo dục, nguyên tắc giáo dục, phương pháp giáo dục, nội dung giáo dục; rào cản cho việc thực hiện giáo dục sớm ở  Việt Nam. TS. Nguyễn Thị Hồng Vân với bài “ Nội dung giáo dục Nhà trẻ (0 – 3 tuổi) trong chương trình đào tạo giáo viên mầm non” đã chia sẻ về công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non và việc đổi mới nội dung giáo dục trẻ nhà trẻ trong chương trình đào tạo của Trường Cao đẳng sư phạm Trung Ương, trong đó có học phần tự chọn “ Giáo dục sớm” và chuyên ngành chuyên sâu “ Giáo dục nhà trẻ” với 5 học phần. Từ năm 2016, Trường Cao đẳng sư phạm TW đã phối hợp cùng viện IPD thí điểm dạy cho sinh viên Khoa mầm non các nội dung về giáo dục sớm cho trẻ nhà trẻ đã đạt được những kết quả như sinh viên được rèn luyện các kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ, hiểu biết các phương pháp giáo dục sớm cho trẻ tuổi nhà trẻ; được tiếp cận các mô hình giáo dục sớm tại gia đình, tại trường mầm non và tại cộng đồng, qua đó sinh viên tự tin, tự chủ hơn trong các đợt thực hành, thực tập ở các trường mầm non. GS.TS. Hoàng yến với bài “ Những suy nghĩ về phát triển Chương trình giáo dục sớm trong bối cảnh gia đình và xã hội có nhiều biến đổi” cho rằng với các cơ sở đào tạo giáo viên Mầm non hệ nhà trẻ là thách thức lớn nhất hiện nay bởi bấy lâu nay chúng ta chỉ chú trọng đào tạo giáo viên mẫu giáo là chính, phần đào tạo giáo viên nhà trẻ dường như còn xem nhẹ vì chúng ta thiếu kinh nghiệm đào tạo và sinh viên ra trường cũng chưa có nhiều nơi làm việc. Điều này cần phải được quan tâm giải quyết trong thời gian tới! cần nhanh chóng phát triển chương trình Giáo dục sớm trong Giáo dục mầm non để góp phần đào tạo cô nuôi dạy trẻ  một cách chuyên nghiệp cho các nhà trẻ. TS.BS. Phạm Thị Mai Chi, Ths.Bùi Thị Kim Tuyến, Ths. Hoàng thị Mai, Ths. Nguyễn Thị Nhỏ, Ths. Lưu minh Hường, Ths.KTS. Từ Thị Kim Anh, Ths.BS. Hoàng Thị Thương Huyền, Nguyễn Thị Giáng Hương đã đề xuất những nội dung giáo dục sớm cần được quan tâm trong Chương trình giáo dục mầm non như giáo dục sớm ngôn ngữ, cảm xúc -  xã hội, Vận động, Nhận thức, Mĩ thuật, Âm nhạc, Kỹ năng sống. TS.Bev Hall giới thiệu một số kinh nghiệm dạy ngoại ngữ cho trẻ mầm non ở Việt Nam.

Thứ ba là nhóm nghiên cứu xây dựng các giải pháp, mô hình giáo dục sớm đã và đang được triển khai ở cộng đồng.

PGS.TS. Trần Thành Nam và Ths. Nguyễn Viết Hiền với bài “ Vận dụng một số biện pháp giáo dục thai giáo nhằm phát triển tốt nhất cho thai nhi”  tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực trạng vấn đề thai giáo tại Việt Nam; thực nghiệm một số biện pháp thai giáo trên mẹ bầu. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả khẳng định: Thai giáo là phương pháp đem lại sự phát triển vượt trội cho thai nhi và mong rằng phương pháp thai giáo sẽ được áp dụng rộng rãi cho các mẹ bầu để đem lại những em bé có tư chất tốt nhất ngay từ khi sinh. PGS.TS.Từ Đức Văn với bài: “ Giải pháp thực thi GDS gia đình ở Việt Nam” đã đề xuất coi GDS gia đình là một bộ phận của giáo dục quốc dân và cần có một số giải pháp thực thi, GDS gia đình từ tuyên truyền, thiết kế chương trình; xây dựng triển khai mạng lưới trung tâm, dịch vụ, câu lạc bộ gia đình, chính sách đầu tư cho các mô hình GDS gia đình ở nước ta. Ths. Bùi Thị Tuyết giới thiệu: “ Trường MN VSK Thăng Long – Mô hình thực hành GDS của Viện Nghiên cứu giáo dục phát triển tiềm năng con người” đã nêu lên triết lý và mục tiêu GDS, nội dung, phương pháp GDS và kết quả 10 năm thực hiện Chương trình GDS của nhà trường. Ths. Nguyễn Thị Nhỏ giới thiệu “ Mô hình CLB gia đình GDS trẻ em từ 0 – 3 tuổi. Một giải pháp gắn kết cộng đồng vì sự phát triển toàn diện trẻ thơ”. Mô hình này đã được triển khai thí điểm tại một số xã của huyện Gia Lâm (Hà Nội) và của hai huyện Đông Sơn và Thiệu Hóa (Tỉnh Thanh Hóa) đã cho thấy tính ưu việt cảu mô hình đối với sự phát triển toàn diện của trẻ thơ. Ths. Vũ Xuân, giới thiệu “ Mô hình GDS tại nhà” sau 8 năm triển khai đã có hơn 2000 trẻ được tiếp cận với GDS, đáp ứng được yêu cầu của các gia đình. Ths. Lưu Minh Hường giới thiệu về “ Mô hình giáo dục trẻ từ 0 – 36 tháng tuổi ở Merbaby Eduspa”. Đây là mô hình giáo dục chuyên sâu dành cho độ tuổi thai nhi đến 3 tuổi với sự kết hợp các yếu tố giáo dục và spa để đảm bảo phát triển toàn diện một em bé về Thân – Tâm – Trí. Mô hình này đáp ứng nhu cầu của các bậ cha mẹ về một môi trường chuyên nghiệp nơi trẻ được nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ an toàn, khỏe mạnh và hạnh phúc. NGƯT. Lê Thị Xôn trình bày vấn đề ‘ Ứng dụng phương pháp tráo thẻ của GS. Glenn Doman trong dạy học: Tiếng Việt – Toán – Thế giới xung quanh cho trẻ từ 0 - 6 tuổi”. Chương trình gói gọn 35 tuần, nội dung học gọn, phù hợp, giáo viên dễ dạy, trẻ dễ học, dễ nhớ và sau 4 – 5 tuổi trẻ đạt được các mục tiêu đã đề ra. Ths. Ngô Thị Thu Huyền với bài ‘ Làm sao để áp dụng hiệu quả GDS trong trường MN cho trẻ ở vùng khu công nghiệp” cho thấy ở những vùng như khu công nghiệp, dân trí thấp, điều kiện kinh tế hạn chế nhưng nếu các nhà trường MN tổ chức cho trẻ được GDS sẽ rất quan trọng và cần thiết. Ths. Lê Khánh Hòa giới thiệu về “ Mô hình trường MN Embassy”. Ths. Vũ Thị Mai Anh giới thiệu “ Hiệu quả mô hình GDS được triển khai tại trường MN Bé ngoan – Khu vực miền núi thấp tại Phường Bắc Sơn, Thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tác giả Trình Thoi giới thiệu về “ Ứng dụng sinh trắc vân tay trong GDS cho trẻ MN” đã đem lại hiệu quả cao trong việc giúp phụ huynh, nhà trường biết được năng lực nổi trội của trẻ để chủ động áp dụng các giải pháp nuôi dạy và phát huy năng khiếu của trẻ trong từng giai đoạn cụ thể. Tác giả Nguyễn Thanh Huyền giới thiệu “ Ứng dụng phương pháp Montessori vào mô hình hệ thống chuỗi trong trường MN ngoài công lập” cho biết với 13 cơ sở trường tập trung ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã có hơn 2000 học sinh được tiếp cận GDS với mức chi phí trung bình khá; hàng trăm giáo viên Montessori quốc tế, hàng trăm nghìn phụ huynh, giáo viên, chủ trường đã dự các khóa học cộng đồng và chuyên sâu.

Trích nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học toàn quốc – Giáo dục sớm phát triển năng lực trẻ em trong những năm đầu đời lý luận và thực tiễn – Bài viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục phát triển tiềm năng con người (IPD), Phó Chủ tịch Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe công đồng Việt Nam (VACHE) NGND. PGS. TS. BS. Nguyễn Võ Kỳ Anh