#

Tiếng lòng của người Thích Tử Tài Hoa

Thu Trang
Bài viết: 1988

“Vần thơ tỉnh thức không mơVần thơ chứa chất vô bờ yêu thươngVần thơ giữa cõi đời thườngVần thơ gửi cả muôn phương vạn loài”…

    (Tác giả Thích Phước Ngọc)

    “Vần thơ tỉnh thức không mơ

    Vần thơ chứa chất vô bờ yêu thương

    Vần thơ giữa cõi đời thường

    Vần thơ gửi cả muôn phương vạn loài”…

                                                                                (Nửa vần Thơ)

    Khép lại cuốn sách mà những âm hưởng của tập thơ dường như vẫn tràn ngập trong tâm tưởng của người đọc.

    Vì tính chất công việc, tôi đã được tặng và đọc nhiều tập thơ của các tác giả trong và ngoài nước. Mỗi tập thơ đều để lại những ấn tượng và cảm xúc nhất định nhưng tôi thực sự bất ngờ khi đón nhận và đọc tập thơ Bần tăng Thi tập của Đại Đức Thích Phước Ngọc, tăng sĩ thuộc tăng già Phật giáo Sri Lanka, Đặc phái viên Quốc tế của Ủy ban Tuyên dương Phật giáo của Chính phủ Sri Lanka kiêm Chủ tịch của Trung tâm Phát triển Quỹ dành cho Trẻ em Isuru Sevana (1). Tập thơ được xuất bản khi tác giả chưa đầy 30 tuổi, nhưng những vần thơ chúng ta được đọc trong Bần tăng thi tập đã là những lớp trầm tích sâu lắng, mang theo sự thông tuệ giác ngộ từ Đạo cùng những trăn trở, tha thiết, chan chứa yêu thương với Đời. Thật đáng khâm phục khi biết rằng trước Bần tăng thi tập, tác giả đã xuất bản 2 tập thơ, khi mới ngoài 20 tuổi. Một gia tài thi ca đáng trân trọng của một người tu hành chưa bao giờ chọn nghề làm thi sĩ. Có lẽ với cõi không gian đa chiều, không có khái niệm “tuổi đời” mà chỉ còn sự bừng sáng của “tuổi trí tuệ”, “tuổi tâm hồn”. Và thước đo không phải bằng thời gian mà bằng tuệ giác, chân tâm, đức hạnh, bằng số bước chân hoằng pháp cứu đời.

    Trong Lời mở đầu Bần tăng Thi tập, tác giả đã viết:

    “Khi xúc cảm đã được bật thành, thì những câu chữ cũng bắt đầu cất cánh, thơ từ ấy định hình với những đường bay. Có đường bay la đà, đường bay cao vút, đường bay yêu thương ngọt ngào trần lụy, đường bay khinh linh hạc trắng ngàn sương… Rồi một vài đường bay ngẫu nhiên bất chợt đâu đó của thơ sẽ bắt gặp đường bay của tư duy tuệ giác, của chứng nghiệm tự thân trong giáo lý Phật Đà”. Với những câu thơ đầy triết luận Phật Giáo, tác giả đã đạt đến sự an nhiên, bình thản trước mọi xoay vần, biến động của đời sống:

    BẦN TĂNG cũng sống cùng nhân quả

    Cũng với vô thường sánh bước đi

    Cũng trong cơn lốc đời suy thịnh

    Cũng sẽ rồi ra kiếp bụi hồng

    Cũng đi rồi đến nhanh hay chậm

    Cũng ĐẾN rồi ĐI… KHÔNG lại KHÔNG

                                                                                    (Bần Tăng)

    Có lẽ, đã lâu lắm rồi chúng ta mới được đọc những vần thơ của các vị tu sĩ với những cảm nhận sâu sắc về thế cuộc, đạo và đời đến thế. Ngược dòng lịch sử trở về với thời đại Lý, Trần, hầu như những thi kệ của các bậc thiền sư đã được xem là khuôn vàng thước ngọc cho việc trị quốc an dân, giáo dưỡng nhân cách và những lẽ sống ở đời. Đó là những thi ca kinh điển của Khuông Việt, Mãn Giác, Vạn Hạnh Thiền Sư, Minh Châu Hương Hải, Hưng Ninh Vương Tuệ Trung Thượng Sĩ và đặc biệt là của Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông… Sự khan hiếm dần những dòng chảy thơ từ mạch nguồn bậc tu hành đã làm thi đàn Việt Nam không biết tự lúc nào dần vắng bóng dần những bài thơ thiền vị. Có thể vì ý thức hệ của thi ca Việt Nam đã quy chuẩn sang duy vật, hiện thực chủ nghĩa, hay đại loại những định hình chuyển hóa từ sách giáo khoa sang. Cũng có thể, do thói quen, hay do thị hiếu đã khiến các nhà thơ Việt Nam và những người yêu thơ dần dần quên lãng một đội ngũ các nhà tu hành mang tâm hồn thi sĩ.

    Chính vì vậy mà như một cơ duyên, Bần tăng Thi Tập ra đời đã mang đến một dòng chảy tươi mát, lai láng chất thiền, nhưng vẫn sống động gắn với từng hơi thở của thời đại, làm người đọc bừng tỉnh trước vẻ đẹp của tâm hồn thi sĩ và ý tứ sâu lắng của Thiền sư.

    Đúng như tựa đề tập thơ: Bần tăng Thi Tập, ở đây không có những lời hoa mỹ, cũng không có sự cầu kỳ về câu chữ hay sắp xếp vần điệu. Những lời thơ như tự đến, tự gieo vần, tự vang ngân và hòa khúc đồng điệu trong tâm hồn của tác giả. An nhiên như chính cuộc ghé lại nhân thế lần này của nhà thơ tu sĩ:

    Nhưng tôi nhân thế thôi mà

    Duyên sinh ghé lại, bôn ba cõi trần

    Bần tăng thi tập là những vần thơ được viết từ một tâm hồn thiền sư mang trong mình khát vọng mang ánh sáng của Phật pháp, của huệ giác rải khắp muôn phương, mang hạt bồ đề gieo vào tâm thức của con người để “Tỉnh ngộ thắp đuốc tự thân”, từ đó “hóa giải lụy phiền chúng sanh…”
    Trong thơ, ta bắt gặp lẽ sống thâu thái bao bọc cả bầu trời và mặt đất nhưng vẫn ấm áp một cuộc sống nhân sinh giữa đời thường. Đó là cuộc sống của những người mang sứ mệnh đặc biệt: Bằng chính cuộc sống tu hành của mình, truyền tải những bức thông điệp của Đức Phật, mang đến tình thương bao la cho loài người. Họ đến với đất Phật bằng nhiều con đường, bằng tin yêu, tín lễ; mở rộng tâm năng, với nhân trí cao cả, đức hạnh tu rèn, nhiều người đạt được những giác linh mà Vũ Trụ và Đức Phật trao truyền. “Thuyền Bát Nhã vững tay chèo/ Nhắn bờ tỉnh thức gian lao không sờn”.
    Nếu nói đến góc độ thi ca trao truyền những giác linh lĩnh ngộ được từ Đức Phật, từ Vũ Trụ, thì tập thơ Bần tăng Thi tập của Đại Đức Thích Phước Ngọc có thể chứa đựng được một trong những tinh thần vi diệu đó, bằng cách nhìn khá dung dị, chân thật, đầy can đảm của một vị sư tự dấn thân, tự giác ngộ. Có thể gọi ông là một thi nhân của dòng thơ ĐẠO & ĐỜI. Ông tiếp nối dòng thơ của các thiền sư, tu sĩ trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Và từ những câu thơ rất Đời, dẫn người đọc đi theo con đường Đạo một cách tự nhiên nhất:

    Đã hẹn tìm về với chân tâm

    Thì dẫu gian truân vẫn cứ tầm

    Sẽ có một ngày như ý nguyện

    Chuông ngân… đêm tối hóa trăng rằm

                                                                                      (Đã hẹn)
    Người đọc sẽ nhận ra tầng triết lý ẩn sâu qua các chương mà tu sĩ - thi nhân khắc họa. Với các chương được xếp đặt, như một cách kể chuyện, một câu chuyện sống động về sự dấn thân, về lòng trắc ẩn với cuộc đời của một bậc chân tu từ khi còn là chú sa di mười ba tuổi, đến lúc trưởng thành, tìm đến bến Giác: “Đạo Phật với tuổi hoa niên”, “Thời niên thiếu”, “Hậu sinh tiếp bước”, “Ký sự những miền đất lành”, “Phật, em và tôi" và chương cuối là “Hộ Quốc”. Qua các chương của Bần tăng thi tập, người đọc như xem một cuốn phim của một đời người: Từ quá khứ tới hiện tại và tương laivới triết lý của sự Giác Ngộ dưới ánh sáng Phật pháp. Những câu thơ không cầu kỳ, giản đơn như cái chất “miền Tây” bình dị, nơi tác giả đã sinh ra, nhưng lại thổi vào làn gió mới: Hào sảng mà vi tế, triết lý mà gần gũi khi quán chiếu Phật pháp vào đời sống nhân sinh.
    Thi nhân, vốn là một Tu sĩ và Tu sĩ mang tâm hồn của một Thi nhân. Chính căn nguyên ấy đã bổ sung đắp đầy cho một trái tim từ bi mà không thụ động, bác ái mà không xa vời. Để câu trả lời về sự “Cảm thông” thật sâu sắc và giản dị:

    Duyên đưa đến gặp nhau trong cõi tạm

    Từ muôn kiếp luân hồi chắc đã có trong nhau

    Em là tôi và tôi cũng là em

    Cùng bản thể vô sinh vô diệt

    Mở rộng tâm từ sáng soi trí tuệ

    Đưa nhau về bến Giác cửa Không

                                                                                   (Cảm thông)
    Người từng “Nói với mình”, từng trăn trở, từng đấu tranh với chính tâm thức của con người bình thường, để đến với chữ KHÔNG - VÔ huyền diệu. Đó có phải là một bài thuyết pháp giúp cho người đời thấu hiểu Đạo? Một sự dấn thân trên con đường đi tìm chân lí, giúp con người dứt trầm luân cõi ta bà?

    Pháp trần lưu trữ đầy tâm thức

    Thà thả trôi sông chiếc áo vàng

    Tham chi ôm mãi kinh, bình bát

    Mà chẳng bỏ buông mộng hão huyền?

                                                                                   (Nói với mình)
    Đem đến xúc cảm rất đời rất thực cho người đọc, là những tâm sự về hình ảnh một cậu bé khi mới được khai ngộ đường tu. Một khúc hoài niệm tuổi ấu thơ, hay một tiếng chuông gióng lên sự tỉnh thức giác linh trong trẻo trong mỗi con người? Đó là hình ảnh tuyệt đẹp của một cậu bé khi khoanh tay xin cha xin mẹ cho đi tu, hình ảnh ngày đầu tiên xuống tóc, ngơ ngác trước sự vô định, bao la, vô cảnh giới, mà trái tim quyết dấn thân bước vào con đường Đạo để tự giác ngộ và giác ngộ chúng sinh?

    Mới lớp 7, tuổi ngây thơ khờ dại

    Biết gì đâu nghĩa hai chữ xuất gia

    Theo mẹ đến chùa kinh kệ ê… a

    Dần cảm mến màu áo nâu giản dị

    Thương bóng dáng khoan thai nhẫn nhịn

    Nét hiền từ ánh mắt Như Lai

    Tôi mơ được vào chùa ở mãi

    Học, tu sao được thanh thoát như người

    Rồi một hôm khoanh tay, đứng trước mẹ rưng rưng

    Dồn can đảm: “Con đi tu nghe Mẹ”

    (Biết gì đâu)

    Câu chuyện Ngày xuống tóc là câu chuyện thiêng liêng, khi tâm đã được chiếu rọi ánh sáng từ bi:

    Từ nay xin gác tình riêng

    Hoàn thành đại nghiệp, xiển dương đạo mầu

                                                                                (Ngày xuống tóc)
    Tuy cả tập thơ không thể hiện riêng nhiều về chữ Hiếu như tập thơ “Tình Người Muôn Thuở” mà đại đức Thích Phước Ngọc đã xuất bản trước đó. Nhưng ở Bần Tăng Thi Tập, thì chữ Hiếu được lồng vào hầu hết trên mỗi dặm hành trình của tác giả. Đó là khoảnh khắc xuất gia, cậu bé tuổi 13 đã ngậm ngùi thốt lên “Mẹ cha hiểu cho con lòng cắt dạ đau…”. Đó là sự hiện hữu trường tồn trong tâm khảm người tu sĩ nặng chữ hiếu ân, khi quỳ trước Lục Phương thì cái lạy đầu tiên dành cho cha cho mẹ:

    Lạy Phương Đông, lạy mẹ cha

    Ơn thành dưỡng dục bao la nghĩa tình

                                                                             (Lục Phương quỳ lạy)
    Tâm Hiếu ấy hòa cùng Tâm Phật, hạnh Hiếu ấy hòa cùng hạnh Phật, khi nhận chân điều thiêng liêng của sự cộng sinh phước - nghiệp trùng điệp trong cuộc đời:

    Mai này bến giác đến nơi

    Độ cha độ mẹ thoát đời trầm luân

                                                                                (Ngày xuống tóc)
    Hai câu thơ, thể hiện hệ tư tưởng giàu tính giác ngộ về việc “trả hiếu”. Gợi lên hình ảnh đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni sau khi thành đạo đã quay về hoàng cung độ cho vua cha Tịnh Phạn, và lên cung trời Đao Lợi độ cho mẫu hoàng Maya. Tác giả đã mở ra cho người đọc nhiều suy niệm mới mẻ và sâu sắc về sự báo hiếu.
    Trên bước đường tu tập, các bậc chân tu đều có thể phải trải qua kiếp nạn, thậm chí nhiều kiếp nạn. Thơ cũng là cách để dặn lòng vượt qua và chia sẻ với tha nhân:

    Chân tâm ơi hãy đợi

    Ta lạc lối chút thôi

    Duyên trần sa chân vướng

    Tan mộng, thức tỉnh rồi.

    Tự tại ơi hãy đợi

    Tham ái tâm rối bời

    Chân tâm ơi hãy đợi

    Phiền não đã buông trôi

    Bến mê vào hư ảo

    Hạnh nguyện quyết vun bồi

                                                                               (Tự tại ơi hãy đợi)
    Và dòng thơ từ đây màu nhiệm, như có niềm hoan lạc, reo vui trên nẻo đường đi tìm chân lí. "Đi anh nhé rời xa phiền não/ Cõi ta bà lắm nẻo u mê/ Theo em nhé sớm chiều kinh kệ/ Lòng an vui như thấy đường về". - (Tỉnh giác). Đó là một niềm an lạc khi tìm ra chân lí. Một bài thuyết pháp ngắn gọn, chứa đựng bao la cõi niết bàn.
    Dòng thơ hùng tráng của thi nhân, theo bước chân Đại Đức khắp mọi nẻo đường hoằng pháp. Những vùng đất, những con người, và nhất là những di tích và nhân vật lịch sử đều in dấu trong Bần tăng thi tập, với một tình yêu tổ quốc nồng nàn và lòng tự hào dân tộc sâu sắc. Tổ quốc, quê hương, lịch sử luôn là những chủ đề nổi bật và đầy hào sảng trong dòng thơ của Bần tăng Thi tập.

    “Việt Nam tôi ôi những giấc mơ hoa

    Mãi một màu thanh bình cho nhân sanh vạn loại

    Mãi một hương sen thiền cho lòng luôn tĩnh tại

    Mãi một giọt đàn bầu khắc khoải tiếng tơ vương

    Đất tôn nhau, nước hòa cùng nhau lại

    Cùng là người sống hãy Hiểu và Thương”.

    (Giấc mơ Việt Nam)

    Hiểu và Thương luôn là một cặp niệm từ trải cùng năm tháng, cùng bước chân người tu sĩ khắp mọi nẻo đường hoằng dương chánh pháp.
    Tình yêu quê hương, yêu dân tộc cùng tình yêu nhân loại bao la đã thấm đẫm trong các trang thơ. Mang niềm tự hào của những người con “mang dòng máu Việt dũng mãnh, hiên ngang/ Yêu hòa bình, không hề khuất phục” trong tư tưởng báo đáp Tứ Trọng Ân được nâng lên thành những vần thơ hào hùng trong tinh thần Hộ Quốc – Hộ Pháp - An Dân của vị tu sĩ hậu lai tiếp bước này:

    Anh dũng đi lên ta vẫn luôn tiếp tục

    Nối bước Tổ tiên sẵn sàng trỗi dậy bản hùng ca”

                                                                            (Hùng ca Chim Lạc)
    Tứ thơ như một bản giao hưởng hùng tráng lồng lộng niềm tự hào và bừng bừng ngọn lửa nhiệt huyết giữ gìn thành tựu cha ông của tác giả, làm chúng ta nhớ đến áng thơ Bình Ngô Đại Cáo bất hủ của bậc tiền nhân Nguyễn Trãi.
    Điểm đáng chú ý trong những trang thơ của vị thiền sư này, Đạo luôn gắn với Đời, Việt Nam gắn với năm châu bốn bể. Yêu nước, gắn với yêu trái đất và cả vũ trụ bao la. Thế giới đại đồng khi con người cùng thương yêu nhau, nhà thơ thiền sư kêu gọi:

    Hãy thương trái đất nầy, chung tay bảo vệ

    Thế nhân khắp địa cầu hãy liên kết nắm tay nhau

    Thương yêu nhau, thế giới một nhà…

    (Biết ơn Mẹ Đất)

    Đối với thiền sư, sự tĩnh tại có được trong nội lực tu tập của một Thích tử Như Lai:

    “Quá khứ đã qua, thôi ta xin khép lại

    Mình bắt tay nhau giữa thời đại văn minh

    ….

    Vô thường lắm những mưu cầu

    Gieo chi nhân xấu, họa vào lấy thân”

                                                                      (Lời tâm tình người Việt Nam)
    Phải được nuôi dưỡng trong cái nôi Phật Pháp và thấm nhuần chất liệu Từ bi và được trải nghiệm tích tụ đầy trí huệ thì mới đưa tới tư tưởng nhập thế như vậy! Tác giả cho chúng ta thấy rõ người tu tuy không tham gia trực tiếp đến chính trị, nhưng phải có thái độ với chính trị, thái độ đó là chuyển hóa được “đối đầu” sang “đối thoại”, chuyển “quá khứ hận thù” thành “cái bắt tay hiện tại” nhưng vẫn không quên cảnh tỉnh nhau bằng luật nhân - quả công bằng của tạo hóa.
    Tư duy giác ngộ sâu sắc đó như sợi chỉ mành mà xuyên suốt khi quán chiếu mọi vấn đề của thời đại. Có thể ví Bần Tăng Thi tập là một cuốn Kinh Thơ, bởi thơ truyền bá giáo lý chánh pháp nhưng cũng chan chứa tình đời. Bần tăng Thi tập là thơ để đọc mà cũng có thể là kinh để niệm. Từng lời thơ ý thơ văng vẳng, ngân xa như những tiếng chuông, vang theo vách núi, lan theo ngàn cây, trải dài theo sông biển nước Việt và cõi nhân gian.

    Bao kiếp luân hồi với chút duyên

    Trần gian ghé bước thật êm đềm

    Áo Chân Như khoác từ niên thiếu

    Chìm, nổi, tỉnh, mê… vượt thác ghềnh

    Thuyền Từ lướt sóng bần tăng nguyện

    Bến Giác gần, xa? Chí vững bền

    Hư không, vạn pháp như như hiện

    Giới tuệ viên thông chánh pháp truyền

                                                                                       (Lời cuối)
    Thơ tải Đạo, Đạo nên Thơ. Nên những vần thơ của Bần tăng thi tập truyền lại nguồn cảm xúc dào dạt và năng lượng lớn lao tới bạn đọc. Chính cái chất thơ đượm đà như dòng phù sa ấy, khi được phổ thành những giai điệu âm nhạc cũng mang nặng chất trữ tình da diết. Ngoài ba tập thơ đã xuất bản, đại đức Thích Phước Ngọc cũng đã cho ra đời những ca khúc mang nỗi trăn trở cùng thời cuộc. Đặc biệt trong thời điểm đại dịch Covid-19 hoành hành toàn cầu, đau nỗi đau chung cùng nhân loại, chất chứa đồng cảm nỗi đau riêng của một người con khắc khoải trên xứ người, tác giả đã viết lên những giai điệu tự sự sâu lắng trong nhạc phẩm “Corona nơi trời xa đất lạ” và ca khúc đã được ca sĩ Hồ Quỳnh Hương thể hiện làm lay động hàng triệu con tim người nghe trong bối cảnh ly loạn vô thường. Hay gần đây, những ca khúc được phổ thơ nằm trong chuỗi những bài ca về Mẹ, được tác giả viết bằng tất cả nỗi niềm yêu thương, trọng kính về người Mẹ vừa tạ thế của mình: Nếu điều đó xảy ra, Má vẫn còn đây, Tiễn biệt Má… với đa dạng những giai điệu: hò, lý, vọng cổ, bolero…. Cũng như những vần thơ của tác giả, những ca khúc được tác giả phổ nhạc đã đi vào lòng người với những giai điệu sâu lắng, chan chứa yêu thương.
    Thật may mắn cho những ai đã được diện kiến tác giả, Đại Đức Thích Phước Ngọc ở ngoài đời trên con đường hoằng pháp không ngơi nghỉ của Ngài. Chúng ta sẽ cảm nhận được nguồn năng lượng to lớn và tuệ giác tuyệt vời toát lên từ vị chân tu này. Mời bạn hãy tìm đọc cuốn Bần tăng thi tập và suy ngẫm, để cảm nhận vẻ đẹp của tâm hồn một thiền sư, sự vi diệu của Phật Pháp, để nhận cảm Đạo và Đời luôn gắn kết thân thương…

    (1) Đại Đức Thích Phước Ngọc đã có phước hạnh được rước xá lợi của đức Phật do đức Tăng thống và Chính phủ Sri Lanka ấn ký trao tặng. Suốt hơn 20 năm trên tinh thần phụng sự theo lý tưởng “Đạo Pháp - Dân Tộc - Chủ nghĩa Xã hội” ở Việt Nam, ông đã có những thành tựu, cống hiến to lớn cho Phật giáo đồ và góp phần cùng Đảng, Nhà nước chăm lo thiết thực cho đời sống an sinh xã hội. Ông đã được đón nhận Huân chương, bằng khen từ Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính Phủ, Trung ương Mặt trận Tổ quốc cũng như Bộ trưởng một số bộ ban ngành dành cho sự nghiệp cống hiến cho đất nước và dân tộc của mình, bằng sự khiêm cung và tư tưởng phụng sự, Đại đức luôn trắc ẩn “đừng nói về những gì bạn đã làm, mà hãy nói về những gì bạn chưa làm được cho cuộc đời này” .